Ước tính thể tích và trọng lượng thân đàn guitar theo hình dạng và mật độ gỗ.
Chọn một họ hình dạng thân đàn, sau đó nhập chiều rộng, chiều dài và độ dày của hộp bao tính bằng milimét và mật độ gỗ tính bằng g/cm³. Các họ hình dạng mang các hệ số lấp đầy chung — phần của hộp bao chữ nhật mà đường viền thực chiếm: offset double-cut 0,62, single-cut 0,68, mặt chạm khắc 0,70, double-cut có sừng 0,55, V nhọn 0,45 và offset nhọn 0,48.
Thể tích bằng thể tích hộp nhân với hệ số lấp đầy đó, rồi khối lượng bằng thể tích nhân với mật độ. Một tấm double-cut 320 × 460 × 45 mm bằng gỗ tổng quán sủi (0,45 g/cm³) cho hộp khoảng 6.624 cm³, thể tích thân gần 4.107 cm³ sau hệ số 0,62, và khối lượng ước tính khoảng 1,85 kg — đúng trong khoảng điển hình 1,5–2,0 kg cho double-cutaway gỗ tổng quán sủi.
Gỗ nặng hơn và đường viền đầy đặn hơn cộng dồn nhanh. Cùng kích thước đó dạng single-cut (hệ số 0,68) bằng gỗ dái ngựa (0,55 g/cm³) cho khoảng 5.049 cm³ và khoảng 2,78 kg. Dùng phép so sánh để khoét rỗng một phôi nặng, chọn loài nhẹ hơn, hoặc kiểm tra một bản dựng trước khi cắt. Mật độ ở đây là giá trị trung bình danh nghĩa; ván thực tế dao động vài phần trăm giữa các tấm.
Thân alder double-cutaway thường nặng 1,5-2,0 kg tùy thuộc vào mật độ và kích thước chính xác.
Basswood (0,40-0,45 g/cm³) và alder (0,42-0,48 g/cm³) nằm trong số các loại gỗ thân đàn guitar nhẹ nhất.
Đó là phần của hộp bao chữ nhật mà đường viền thực sự lấp đầy. Các họ trải từ single-cut đầy ở 0,68 và mặt chạm khắc ở 0,70 đến V nhọn ở 0,45 và offset nhọn ở 0,48, với offset double-cut ở 0,62. Nhân thể tích hộp với hệ số này xấp xỉ thân đàn cong mà không cần đường viền CAD.
Khối lượng đơn giản là thể tích nhân mật độ, nên gỗ đặc hơn nhân kết quả trực tiếp. Lấy cùng kích thước dạng single-cut (hệ số 0,68) bằng gỗ dái ngựa (0,55 g/cm³) cho khoảng 5.049 cm³ và chừng 2,78 kg — nặng hơn gần một kilogram so với ví dụ tổng quán sủi nhẹ hơn. Dùng phép so sánh để quyết định khoét rỗng một phôi nặng hay đổi loài trước khi cắt.